TIÊU ĐIỂM

Lịch sử phát triển khoa Quốc Tế học

KHOA QUỐC TẾ  HỌC - THÀNH TỰU VÀ TRIỂN VỌNG

Khoa Quốc Tế học trước đây là khoa (Đông Phương học) được thành lập vào ngày 15/6/2004 theo Quyết định số 469/2004/QĐ-ĐHĐL/TC-HC của Hiệu trưởng Trường Đại học Đà Lạt, trên cơ sở mở rộng phạm vi đào tạo của Ban Việt Nam học đã được thành lập từ ngày 29/7/1995 theo Công văn số 5145/KHTC của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Cho đến nay, khoa Quốc Tế học đã mở 4 ngành đào tạo: Việt Nam học (từ 1995), Hàn Quốc học (từ 2004), Nhật Bản học (từ 2007) và Quốc Tế học. Bên cạnh đào tạo chính quy, Khoa còn phối hợp với Trung tâm Việt-Hàn, Trung tâm Sejong, Văn phòng giao lưu văn hóa, giáo dục Việt- Nhật, trong việc mở thêm các lớp tiếng Hàn, tiếng Nhật các hệ sơ cấp, trung cấp và cao cấp vào các buổi tối cho tất cả những ai có nhu cầu học thêm về ngôn ngữ và văn hóa các nước Hàn Quốc, Nhật Bản, cũng như mở các lớp  tiếng Việt  và văn hóa Việt Nam cho người nước ngoài.

Chương trình đào tạo hệ chính quy của các ngành đào tạo trong khoa đều dựa trên chương trình khung của bộ Giáo dục và Đào tạo, trong đó đặc biệt ưu tiên tới khối kiến thức có tính thiết thực nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước và giao lưu – hội nhập quốc tế.

Ngành Việt Nam học chú trọng tới các khối kiến thức về văn hóa Việt NamDu lịch Việt Nam; trong đó, bên cạnh chương trình học tập nội khóa, khoa dành một sự quan tâm đặc biệt tới các hoạt động học tập tại hiện trường lịch sử - văn hóa thông qua việc tổ chức các chương trình xuyên Việt, đưa sinh viên tới thăm quan-học tập tại các quần thể di tích-danh thắng và các vùng văn hóa tiêu biểu khắp mọi miền đất nước như Khu di tích Pác Pó (Cao Bằng), Sa Pa (Lào Cai), Tân Trào (Tuyên Quang), đền Hùng (Phú Thọ), vịnh Hạ Long (Quảng Ninh), các khu di tích Hoàng thành Thăng Long, Văn Miếu-Quốc tử giám,… (Hà Nội), Điện Biên phủ (Điện Biên), Khu di tích Tràng An (Ninh Bình), khu di tích thành nhà Hồ (Thanh Hóa), quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh (Nghệ An), Vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng (Quảng Bình), Quần thể di tích cố đô Huế (Thừa Thiên-Huế), Khu phố cổ Hội An, khu thánh địa Mỹ Sơn (Quảng Nam), Bản Đôn (Đắc Lắc), các di tích lịch sử, cách mạng tại TP. Hồ Chí Minh, mũi Cà Mau….

Các ngành Hàn Quốc học và Nhật Bản học chú trọng tới khối kiến thức về ngôn ngữ và đất nước học (thể chế chính trị, địa lý, lịch sử, du lịch, văn hóa, văn học,…) của từng quốc gia theo ngành đào tạo, trong đó mảng kiến thức về ngôn ngữ chiếm già nửa tổng thời lượng của khóa trình đào tạo.

Ngành Quốc Tế học chú trọng nhiều đến quan hệ Việt Nam với các nước trên thế giới, nghiên cứu tìm hiểu kinh tế của các quốc gia có nền khoa học kỹ thuật phát triển như Mỹ, Châu Âu. Nghiên cứu các mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước EU, các đối tác trong khu vực như Trung Quốc, Asean…

Về hợp tác quốc tế, thông qua lãnh đạo trường, Phòng Nghiên cứu khoa học và Hợp tác quốc tế, khoa có quan hệ với nhiều tổ chức và các trường đại học trong khu vực (ở Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan,…). Trong quá trình đào tạo, một số sinh viên của khoa vẫn nhận được các học bổng toàn phần hay bán phần để tham dự các khóa học ngắn hạn (3 tháng, 6 tháng, 1 năm) tại các nước khác. Giảng viên trong khoa thường xuyên được tài trợ cho các đợt tu nghiệp ngắn hạn và đào tạo sau đại học ở các nước bạn.

Về nghiên cứu khoa học, tuy là một khoa còn khá trẻ, song hoạt động nghiên cứu khoa học của tập thể giảng viên, sinh viên trong khoa rất sôi nổi. Nhiều đề tài khoa học cấp Bộ, cấp trường đã nghiệm thu với kết quả tốt, hơn 100 bài báo khoa học đã được công bố trên các tạp chí khoa học trong và ngoài nước như Dân tộc học, Nghiên cứu Đông Bắc Á, Nghiên cứu Đông Nam Á, Văn hóa nghệ thuật, Hán – Nôm,  Nghiên cứu Việt Nam của Hội Việt Nam học Hàn Quốc,… Trọng tâm nghiên cứu của giảng viên và sinh viên trong khoa là các mảng đề tài liên quan tới văn hóa của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên – truyền thống và biến đổi, những điểm tương đồng và dị biệt trong văn hóa Việt Nam và văn hóa Hàn Quốc, Nhật Bản,…

Đội ngũ giảng viên trong khoa phần đông là giảng viên trẻ, có trình độ từ Thạc sỹ trở lên, nhiều người vẫn đang được cử đào tạo Tiến sỹ, Thạc sỹ tại các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước. Đế nâng cao chất lượng đào tạo, khoa vẫn sử dụng một số lượng lớn các giảng viên thỉnh giảng từ các viện nghiên cứu, các trường đại học trong và ngoài nước. Được sự giúp đỡ của các trường đại học Hàn Quốc, Nhật Bản, các tổ chức hợp tác quốc tế Hàn Quốc, Nhật Bản,…thường xuyên vẫn có tại khoa một đội ngũ giảng viên tình nguyện đến từ các nước nói trên tham gia giảng dạy tiếng Hàn, tiếng Nhật,… Từ năm 2008 trở lại đây, cựu Đại sứ Hàn quốc tại Việt Nam (nhiệm kỳ 2001-2003) – Ngài Yoo Tae Huyn, đã tình nguyện tham gia giảng dạy ngôn ngữ và văn hóa Hàn Quốc cho sinh viên của khoa.

Đến nay, ngành Việt Nam học đã có 16 khóa với gần 1000 sinh viên tốt nghiệp đại học. Nếu như hơn chục năm về trước, nhiều người vẫn còn xa lạ với ngành đào tạo Việt Nam học; nhưng trong những năm gần đây, tấm bằng cử nhân Việt Nam học đã trở nên quen thuộc, đã và đang từng bước khẳng định vị trí của mình trong xã hội, nhất là trong sự nghiệp xây dựng một văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Theo thống kê sơ bộ, phần lớn cử nhân Việt Nam học đều được tuyển dụng và đang làm việc tại các cơ quan văn hóa, du lich, các tổ chức dân-chính-đảng (văn phòng cấp ủy, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể quần chúng), các trường phổ thông tại nhiều địa phương trong cả nước, một bộ phận trong số họ đã và đang nắm giữ những chức trách quan trọng tại các địa phương cũng như các cơ quan – đơn vị mà họ làm việc.

Cho tới tháng 6/2015 vừa qua, đã có 8 khóa đào tạo ngành Hàn quốc học và 5 khóa đào tạo ngành Nhật Bản học mãn khóa với 600 sinh viên ngành Hàn Quốc học và gần 300 sinh viên ngành Nhật Bản học tốt nghiệp. Tuyệt đại bộ phận số cử nhân các ngành nói trên đã được cơ quan, công ty Hàn Quốc, Nhật Bản ở Việt Nam tuyển dụng với mức lương trung bình từ  300 – 500 USD/ tháng. Hiện khả năng đào tạo các ngành này vẫn còn quá thấp so với nhu cầu tuyển dụng, nhất là khi quan hệ giữa Việt Nam với các quốc gia Hàn Quốc và Nhật Bản đã nâng lên tầm đối tác chiến lược.

Cùng với thành tích học tập, tu dưỡng, nhiều sinh viên ưu tú của Khoa đã có vinh dự được kết nạp vào Đảng cộng sản Việt Nam (Ngô Thanh Vinh – VN K.28, Tống Xuân Giang – VN K. 24, Lê Thị Nhuấn – VN K. 26, Cao Thị Thanh Tâm – VN K. 28, Nguyễn Văn Trung – VN K. 29, Nguyễn Thị Ngọc Anh – VN K. 32)….   

Cơ cấu tổ chức khoa hiện gồm Ban chủ nhiệm khoa, Hội đồng khoa học và Đào tạo khoa và 04 tổ bộ môn: Bộ môn Hàn Quốc học, Nhật Bản học, Việt Nam học  và Quốc Tế học.

 

 

Các tin khác